12 tháng 5, 2009

IMAGES AUTOMATIC SPIN


CHƠI TRÒ CHƠI AI LÀ TRIỆU PHÚ

CHƯƠNG TRÌNH AI LÀ TRIỆU PHÚ CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH VTV3 CŨNG LÀ SAO CHÉP TỪ CHƯƠNG TRÌNH TRÒ CHƠI CỦA MỸ. ĐÂY LÀ CHƯƠNG TRÌNH GỐC CÁC BẠN HÃY CHƠI MỘT CÁC NHIỆT TÌNH SẢN KHOÁI NHƯ ĐANG NGỒI GHẾ NÓNG TẠI TRƯỜNG QUAY S9 NHÉ. CHỈ CÓ ĐIỀU THIẾU LẠI VĂN SÂM DẪN CHƯƠNG TRÌNH THÔI. QUA ĐÂY CŨNG CÓ THỂ LUYỆN TẬP THÊM TÍ ĐĨNH TIẾNG ANH...CŨNG HƠI BỊ KHÓ ĐẤY...VÀ MỖI LẦN KHỞI ĐỘNG LÀ KHÁC NHAU HOÀN TOÀN ĐỂ TRẢ LỜI HOÀN HẢO HẾT THÌ BẠN ĐÚNG LÀ TỶ PHÚ.





11 tháng 5, 2009

chữ nho đưa lên web có được không?

南 國 山 河 帝 居
Lắng nghe nhạc thiền

9 tháng 5, 2009

       


DƯỚI HÀO QUANG PHẬT

Góp thêm ngọn nến nhỏ nhoi
nguyện hoằng dương Phật pháp.

Đón hạnh phúc khấn cầu hào quang Phật,
Loại tai ương luôn cảnh tỉnh chữ vô minh.
Ngộ chánh đạo thảnh thơi tâm bát nhã,
Học tu thiền, nguyện làm điều chân chính,
Hành thập thiện, giữ thân tâm an tịnh.
Trong buồn, vui... của muôn kiếp chúng sinh,
Chân lý Phật cao minh cứu nghiệp đời khổ hạnh.
Khi giác ngộ tinh thần thêm sức mạnh,
An lạc,yêu vui, phước hạnh ở bên mình.


Nam mô A di đà Phật
Phật đản 2553
Viễn Thi Cư Sĩ


7 tháng 5, 2009

ALBUM SINH NHẬT CỦA BÉ NGUYỄN VĨ ANH KIM


Free Humming Bird MySpace Cursors at www.totallyfreecursors.com



CÁC CHÁU HÃY CLICK VÀO DÒNG CHỮ NÀY ĐỂ XEM HÌNH
NẾU MUỐN ĐỂ ẢNH CHẠY TỰ ĐỘNG HÃY CLICK VÀO NÚT SLIDESHOW
HÃY CLICK VÀ ĐÂY ĐỂ XEM HÌNH ẢNH HOA PHONG LAN 2

23 tháng 1, 2009

CUNG CHÚC TÂN XUÂN KỶ SỬU











PHIM VĂN NGHỆ TỔNG KẾT THI ĐUA

TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ MỸ THUẬT THIÊN NGA

THỜI GIAN ƠI XIN ĐỪNG TRÔI...

NẾU CÓ ƯỚC MUỐN TRÊN CUỘC ĐỜI NẦY -HÃY NHỚ ƯỚC MUỐN CHO THỜI GIAN TRỞ LẠI...



VIẾNG CHÙA THẦY



VIẾNG CHÙA THẦY

Hữu duyên hạnh ngộ viếng chùa Thầy
Bồng Lai Tiên Cảnh chính nơi đây.
Thiên Phúc chùa Cao xanh bóng mát,
Thuỷ đình soi nước ngỡ trên mây.
Hang Gió cheo leo reo tiếng gió,
Cắc Cớ hang gì lại xuống đây?
Linh ứng thần thông nơi Phật Tích.
Truyền lưu trường cửu núi sông này!

8/2003- VIỄN THI CƯ SĨ

Chùa Thầy còn gọi là chùa
Thiên Phúc tự nằm ở chân núi Sài thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 25Km về phía tây. Chùa được xây dựng vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1127), lưu dấu ấn tu hành của một vị cao tăng rất nổi tiếng thời Lý: thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chuyện kể rằng sau khi đắc đạo, thiền sư trở về giảng đạo, dạy học hái thuốc giúp dân, tổ chức những trò chơi như đá cầu, đánh vật, múa rối nước. Do đó dân chúng rất cảm phục nên mới gọi nhà sư bằng một danh xưng vừa trìu mến vừa gần gũi là "thầy". Bởi vậy chùa ngài tu là chùa Thầy, núi ngài hóa cũng là núi Thầy, làng ngài sống là làng Thầy, thậm chí đến cả tổng đó cũng được gọi là tổng Thầy.
Về kiến trúc, lúc đầu chỉ là một thảo am nhỏ mang tên Hương Hải am do thiền sư Từ Đạo Hạnh lập ra để tu tập. Sau mới xây thành qui mô lớn. Trước cửa chùa có hồ nước rộng gọi là Long Trì (ao rồng), giữa hồ có nhà thủy đình là nơi biểu diễn rối nước trong những ngày hội. Hai bên cầu có hai chiếc cầu lợp mái theo kiểu "thượng gia hạ kiều" (trên là nhà dưới là cầu). Bên trái là Nhật Tiêu Kiều thông ra tam phủ trên một đảo nhỏ giữa ao Rồng. Bên phải là Nguyệt Tiêu Kiều bắc qua ao lên núi. Toàn khu chính điện của chùa là một khuôn viên hình chữ nhật rộng khoảng 40m, dài chừng 60m, gồm ba tòa nhà to dài xây song song hình chữ tam, có hai dãy hành lang chạy kèm hai bên các đấu hối. Nhưng kỳ lạ thay cả ba ngôi bảo điện hình chữ tam đồ sộ như thế mà chỉ có 36 lỗ đục, còn gỗ được xếp chồng lên nhau nhưng lại rất vững chắc. Hai bên toà chính điện là gác chuông và gác chính nhô cao lên khỏi hai dãy hành lang. Đi tiếp là chùa Thượng, bàn giữa tượng Di Tà tôn ở trên, phía dưới là bệ đá trăm hoa (bách hoa đài) tạc từ thời Trần, trên để hòm sắc lịch triều tôn phong của thiền sư Từ Đạo Hạnh, phía dưới cùng là tượng thiên sư nhập định trên tòa sen vàng, gian bên trái thờ tượng toàn thân thiền sư bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám. Rời chùa chính, du khách qua Nguyệt Tiêu Kiều là cổng "Bất nhị pháp môn" để lên núi. Đến lưng chừng núi ta gặp chùa Cao (Hiền Thụy am) với hang thánh hóa là nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh giải thi (trục xác). Leo lên tới đỉnh núi ta thấy một khoảng đất bằng phẳng xung quanh có nhiều mô đá châu vào. Đó là "chợ trời". Lại theo đường mòn chùa Cao ta đi vòng về phía sau, qua lối rẽ là tới hang Cắc Cớ. Hang rất tối, lối xuống hang rất dốc và trơn trợt muốn vào phải níu nhau mà đi. Tuy hai bên hang người ta đã tạo hai tay vịn bằng sắt cây dọc theo lối xuống tuy vậy khi bước xuống vẫn thấy có gì đó không chắc chắn lắm nên gây tâm lý rờn rợn, nếu đi một mình có lẽ người có lòng can đảm lắm mới dám xuống, ngoài của hang thì nóng nực vậy nhưng khi bước xuống một đoạn đã thấy mát lạnh. Về mùa mưa thì hơi nước toả ra mù mịt và rất lạnh. Bởi khó vì dốc và tối nên ở cửa hang dân địa phương đã có dịch vụ cho thuê đuốc, mỗi cây đuốc ở đây thuê với giá 15.000 đồng, nói thì cầm đuốc để cho sáng đường mà đi chứ kỳ thực sao nhìn xung quanh sao chỉ thấy tối om om, chỉ biết vị theo thanh thép và đi theo sau lưng người đi trước, chân phải thòng xuống do dò thử có đụng đá chưa mới dám bước tiếp. Thật ra đi như vậy cũng phiêu lưu thật nhỡ một người mà té ngã thì có mà lăn cả nhóm xuống đáy hang hậu quả chưa biết ra làm sao. Tương truyền đây là nơi tuẫn tiết của tướng quân họ Lã sau trận chống giặc ngoại xâm thất bại. Bên trong hang có một hang đá bên trong có nhiều đoạn xương mầu đen đen, trắng trắng, người địa phương rọi đuốc chỉ cho xem và bảo rằng đó là xương những tướng sĩ của nghĩa quân Hai Bà Trưng đã tử trận và chân cất tại đây, nghe cũng khó tin có đúng hay không, và nhìn xương từ xa xa không biết có phải xương hay không? thôi thì cứ tin là vậy. Ở hang cũng có khá nhiều nhủ đá, và nhiều lư hương thờ, thú vị nhất có nhủ đá tình yêu. Ai chưa có vợ có chồng, chưa có người yêu thì đến sờ vào sẽ có ngay, mà ai muốn có thêm người yêu nữa đến sờ cũng có thêm ngưòi yêu. Thế là đến đây ai cũng sờ vào khiến nhũ đá bóng loáng. Tôi lúc đó đã có vợ nhưng mà cũng rờ đôi cái để lấy hên!! Sau một hồi dạo hang Cắt Cớ lại quanh lên. Đúng là Cắt Cớ thật Cắt Cớ gì mà phải xuống dưới đó chớ. Ngày xưa có lẽ nơi này là nơi hò hẹn tình tứ của trai gái do đó mới có câu:

“Gái mong chồng vào hang Cắt Cớ
Trai chưa vợ mong hội chùa Thầy”
Từ hang Cắc Cớ lên, men theo sườn núi trông những cây sứ già(cây đại) rất cổ kính, ta đặt chân tới đền Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương, nơi hội họp của Đông Kinh Nghĩa Thục xưa kia. Đi tiếp, ta sẽ xuống đến chùa Bối Am, hay còn gọi là một chùa một mái. Bên cạnh đó là hang Hút Gió, tại đay nhìn vách đá dựng đứng, hang đá nhìn từ trên cao trông phong cảnh hữu tình những có vẽ thần tiên cổ quái nếu dựng phim về cảnh tiên, hoặc đạo sĩ đang luyện linh đan thì thật tuyệt ở thềm đá Thái Lão, có bàn cờ tiên, có bia đá khác trên vách đá, nghe tiếng gió thổi hun hút, thật thú vị có vào mùa mưa gió mà ngồi trên này thì thật ly kỳ lắm đó. Khi xuống dưới núi có đền kỷ niệm Phan Huy Chú, Nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Có một điều thú vị là trong quá trình leo núi du ngoạn du khách đều có thể thấy có một nơi ghi biển đề treo hẳn hoi là hang Bác Hồ. Cách ghi mới nhìn qua ai cũng không khỏi bật cười không hiểu sao chính quyền địa phương vẫn để như thế. Kỳ thực vùng núi này trong một giai đoạn Bác đã có đến ở và làm việc, có lẽ bảo đảm an ninh và an toàn khi tránh bom đạn.
Có một điều thần diệu và ly kỳ cho thấy thần thông linh ứng của Chùa Thầy là có thật. Có lẽ khi nói các bạn sẽ cho là tôi là người mê tín và có thể không tin... Nhưng có sao thì tôi nói vậy, đó cũng là điều tốt. Nhớ năm đó vào mùa thu là năm 2003. Tôi và một vài anh em trong công ty có chuyến công tác dài ngày tại Hà Nội, do ở lâu ngày nên không ở khách sạn mà thuê hẵn một phòng ký túc xá sinh viên tại Làng Sinh Viên (Hacinco) tại Thanh Xuân để ở và tiện cho việc đi lại khu vực này. Đây là một khu nhà sinh viên khá hiện đại vào bậc nhất thời ấy gồm có nhiều dãy nhà mỗi dãy cao 6 đến 7 tầng, nói chung khá khang trang hiện đại. Phòng chúng tôi thuê là người ở đầu tiên, mới toanh chưa từng có ai ở và ở tận tầng 4 hay 5 gì đó. Việc ăn ở nói chung là tuyệt vời khỏi phải bàn, sinh hoạt cũng rất là vui vẽ, ban đêm rực rỡ ánh đen và người ra vào sinh hoạt rất tấp nập, bên trong có cả cănting, quầy sách, hàng quần áo... nói chung như một đô thị thu nhỏ. Ấy vậy mà không hiểu làm sao cứ ban đêm tôi ngủ lại cứ bị những cơ ác mộng ma quái không nhớ rõ là thấy những gì, thấy lạ tôi mới kể cho anh em nghe và hỏi có ai thấy như vậy không? Có người bảo cũng mơ thấy như vậy. Tôi hay nói đùa có lẽ ban ngày tôi uống phải cái ly của thằng cha nào ăn thịt chó hay sao ấy, ai nghe cũng tức cười, bởi uống nước ngoài này là uống riêng quán khác chứ không chung với quán cơm. Cứ sà vào quán cóc nào đó gần vệ đường là có nước trà, bán theo từng cốc một, uống mấy cốc tính tiền mấy cốc...Việc nằm mơ thấy bậy bạ nhưng vậy nhưng cũng chả sao bởi vì tôi ngủ ngon lắm. Có một điều thần diệu đã xãy ra. Hôm đó anh Phát là người ở Viện công nghệ Hà Nội có ý rủ chúng tôi đi tham quan Chùa Thầy, bởi biết tính tôi là người rất thích đi du lịch đây đó nhất là những danh lam thắng cảnh. Chúng tôi đến và tham quan Chùa Thầy, thật là tuyệt vời cảng trí nơi đây thật đúng là thân tiên chi cảnh, bài thơ của tôi cũng thể hiện điều đó. Và trong lúc lên viếng chùa Cao tôi thấy có một bức tượng Phật Quan Âm in hình trên chiếc khánh (rẽ quạt) thật đẹp nên có mua là kỷ niệm. Khi trở về phòng ở mới đem bức tượng Phật ra ngắm và tìm cách bảo quản để mang về, có điều không thể cất vào va ly đồ đạt vì mất tính tôn kính, tôi thì tìm cách treo tạm ở trong phòng. Nhưng cũng chẳng biết treo ở đâu vì nhà mới phẳng lỳ tường sơn, thế là tôi treo tạm trên cây khung gỗ mắc màn. Điều linh ứng kỳ lạ mà chính tôi cũng không nghĩ, và mong đợi là chẳng hiểu sao từ đó đến ngày về là 3 tuần sau tôi ngủ ngon lành và không đêm nào mơ thấy điều gì kỳ quái nữa. Anh em ở đây và tôi có hỏi những người dân ở đây có bảo rằng trước đây khu đất này là khu mồ mả nhiều lắm sau qui hoạch làm khu Làng Sinh Viên. Tôi không phải là người mê tín dị đoan, không tin điều nhản nhí. Nhưng điều tôi kể là có thật.

DANH NGÔN - DANH NHÂN LỜI HAY -Ý ĐẸP


DANH NGÔN VỀ NGƯỜI THẦY

1."Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn." Uyliam Batơ Dit
2."Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình." Can Jung
3."Chúng ta không thể dạy bảo cho ai bất cứ điều gì, chúng ta chỉ có thể giúp họ phát hiện ra những gì còn tiềm ẩn trong họ." Galileo
4."Giáo dục như ánh thái dương phản chiếu cả đến những gian nhà cỏ thấp bé, mái tranh của con nhà nghèo." Pestalogi
"Sự gương mẫu của người thầy giáo là tia sáng mặt trời thuận lợi nhất đối với sự phát triển tâm hồn non trẻ mà không có gì thay thế được." Usinxki
5."Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác." Usinxki
6."Đối với người giáo viên, cần phải có kiến thức, có hiểu biết sư phạm về quy luật xã hội, có khả năng dung lời nói để tác động đến tâm hồn học sinh. Có kỹ năng đặc sắc nhìn nhận con người và cảm thấy những rung động tinh tế nhất của trái tim con người." Xukhomlinxki
7."Nếu người kỹ sư vui mừng nhìn thấy cây cầu mà mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm cười nhìn đồng lúa mình vừa mới trồng, thì người giáo viên vui swongs khi nhìn thấy học sinh đang trưởng thành, lớn lên." Gôlôbôlin
8."Dạy tức là học hai lần." G. Guibe
9."Trọng thầy mới được làm thầy." Ngạn ngữ Trung Quốc
10."Một gánh sách không bằng một người thầy giỏi." Ngạn ngữ Trung Quốc
11."Thầy giáo là đường tinh, học sinh là đường đã lọc." Ngạn ngữ Ba Tư
12."Một ông thầy mà không dạy cho học trò được việc ham muốn học tập thì chỉ là đập búa trên sắt nguội mà thôi." Horaceman
13."Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo; chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục." Đệ Ngũ luận
14."Người cha chính là người thầy đầu tiên của đứa trẻ." T. Thore
15."Phải tôn kính thầy dạy mình, bởi lẽ nếu cha mẹ cho ta sự sống thì chính các thầy giáo cho ta phương cách sống đàng hoàng tử tế." Philoxêne De Cythêrê
16."Nào ai có giỏi hơn con kiến, thế mà nó chẳng cần nói một lời nào." Benjamin Franklin
17."Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy." Tục ngữ Việt Nam
18."Muốn sang thì bắc cầu kiều,muốn con hay chữ phải yêu kính thầy." Tục ngữ Việt Nam
19."Tôi dường như không phải là thầy giáo...và những con đường dẫn đến trái tim tuổi thơ sẽ bị đóng kín đối với tôi nếu tôi chỉ là người đứng trên bục giảng." V.A. Sukhomlinxki

DANH NGÔN VỀ TÌNH BẠN
  1. "Không phải ai cũng cần có bạn bè"
  2. "Không có bạn thì tốt hơn là có bạn mà không học hỏi được gì từ bạn"
  3. Một ngày cho công việc cực nhọc, một giờ cho thể thao, cả cuộc đời cho bạn bè vẫn còn quá ngắn ngủi.Emerson
  4. Cách duy nhất để có bạn bè là chính bản thân mình phải là một người bạn.Emerson
  5. Anh là kẻ thù ghê gớm của chính anh nếu anh là kẻ hèn nhát; nhưng nếu anh là người dũng cảm, anh lại là người bạn tốt nhất của chính bản thân anh.Frank
  6. Bạn hãy tin cậy mọi người, họ sẽ trung thành với bạn. Bạn cao thượng với họ, họ sẽ biểu lộ sự cao thượng với bạn. R.Emerson
    Nếu trái tim bạn là một đóa hoa hồng, miệng bạn sẽ thốt ra những lời ngát hương.Ngạn ngữ Nga
  7. Hãy đối xử với bạn bè như đối xử với những bức tranh, nghĩa là hãy đặt họ ở những góc độ có nhiều ánh sáng nhất. J. Churchil
  8. Cho người khác 1 cơ hội chính là tạo cho mình 1 cơ hội.
DANH NGÔN TÌNH YÊU
  1. Tình yêu trông từ xa giống như giọt mật nhưng khi đến gần thì lại là một giọt nước mắt long lanhw:Lope De Vegas
  2. Tình yêu chân thật không phân biệt giai cấp tuổi tác, địa vị danh vọng... Nó sang bằng tất cả. Nó là vị thần của tình cảm.w:Lope De Vegas
  3. Tình yêu là ngôi sao mà người đàn ông vừa đi vừa ngước mắt nhìn theo, nhiều khi là lỗ cống mà Anh ta mải mê mà tụt chân xuống.w:LAPE DE VEGA
  4. Yêu có nghĩa là mong sao cho người khác được hạnh phúc, không phải là mong cho mình, mà là mong cho người mình yêu và cố gắng cao nhất để làm được điều đấy. – Aristole
  5. Ái tình là cái gì, từ đâu đến và kết thúc ra sao, tôi không biết. –Madeleine de Scudery
  6. Tình yêu là điều tuyệt hảo. –Robert Browning
  7. Tình yêu là phép lạ của văn minh. – Stendhal
  8. Tình yêu là đứa trẻ do các nhà thơ sinh ra thế nên không roi vọt là nó sẽ hư thân. – Samuel Bulter
  9. Tình yêu giống như bệnh sởi, người nào cũng phải trải qua. – Jerome K. Jerome
  10. Tình yêu giống như bệnh sởi, luống tuổi rồi bệnh mới phát thì thật chẳng hay ho gì. – Douglas Jerrold
  11. Nếu không có ước vọng, yêu đương chỉ là sự yếu đuối của tâm hồn. – William Congreve
  12. Tình yêu là sự yếu đuối cao quí nhất của tinh thần. – John Dryden
  13. Yêu đương là một chứng bệnh tâm thần nghiêm trọng. – Plato
  14. Yêu nghĩa là không so sánh nữạ. – Benard Grasset
  15. Trong tình yêu, so sánh là hết yêu rồi. – Jacques Dyssord
  16. Ái tình là cái khôn của người dại, là cái dại của người khôn. – Samuel Johnson
  17. Yêu nghĩa là không bao giờ phải nói rất tiếc. – Erich Segal
  18. Tình yêu là sự chào hỏi của thiên thần trước các vì tinh tú. – Victor Hugo
  19. Có vết thương nào tệ hại hơn một tình yêu giả dối?Sophocle
  20. Yêu nhau không phải là nhìn nhau, nhưng là cùng nhau nhìn về một hướng. – Saint Exupery
  21. Tình yêu là nỗi đam mê không qui phục một điều gì, trái lại, mọi thứ qui phục nó. – Madeleine de Scudery
  22. Ái tình là khói sinh ra cùng với hơi thở muộn phiền. – Shakespeare
  23. Chỉ có một thứ ái tình mà thôi, nhưng nó có hàng nghìn bản sao khác nhau. – La Rochefoucauld
  24. Ðàn ông giấu cái gì cũng được, trừ lúc say và lúc yêu.– H. L. Menchen Sóng mắt người đàn bà đẹp bao giờ cũng có tác dụng như một ly rượu mạnh mà người đàn ông chỉ là một tên bợm rượu.Napoleo.1er
  25. Trong chuyện yêu thương không bao giờ đây đủ cũng như không có lúc nào thừa. Dù cho có viết cho nhau bằng nghìn hằng vạn lá thư cũng không bao giờ vơi được nỗi niềm thương nhớ đang chất chứa trong lòng hai kẻ yêu nhau. Ngọn lửa tình không bao giờ tàn trong những chiếc lò làm bằng tim, bằng máu. Những lá thư tình chỉ giúp cho những người yêu thương nhau vơi đi phần nào thương nhớ mà không bao giờ trút cạn được niềm yêu. Napoleon. 1er
  26. Chân lý cuối cùng trên cõi đời vẫn chỉ là tình yêu. Yêu là sống và còn sống là còn yêu. Voltaire
  27. Không có người đàn bà nào xấu, chỉ có những người đàn bà không biết làm cho mình quyến rũ mà thôi. Christian Dior
  28. Ðàn bà luôn luôn sẵn lòng hy sinh, nếu bạn cho họ có cơ hội sở trường của họ chính là ngường nhịn. William Somerst De Maugham
  29. Không chỉ có tình yêu nào chân thật mà thiếu tình cảm và tâm hồn. Không có tình yêu nào đầy đủ nếu không có xác thịt chen vào. Pierre Dufoyer
  30. Hôn nhân có thể là cái hồ sóng gió, nhưng cảnh độc thân luôn luôn là cái hố bùn lầy.T.L.Peacook
  31. Trước mắt người yêu, không có người đàn bà nào xấu cả.Ronsard
  32. Yêu và được yêu là một bản nhạc mà nghe mãi không chán.Madame De Stael
  33. Ðịnh nghĩa tiếng yêu rất là giản dị. Nó là sự hòa hợp giữa hai tâm hồn trai và gái.Jean Jacques Rousseau
  34. Khi ái tình lên tiếng, lý lẽ phải lặng im.Regnard
  35. Hãy trân trọng tình yêu, bạn sẽ nhận được tất cả. Tình yêu sẽ trường tồn ngay cả khi sức khỏe ngàn vàng của bạn không còn nữa. OG Mandon
  36. Cái sung sướng nhất trên đới là tin chắc chắn rằng mình đã được yêu. Victo Hugo
  37. Tình yêu đúng đắn sẽ nâng cao con người lên, làm cho con người đẹp hẳn ra. Maxime Gorki
  38. Chỉ có tình yêu mãnh liệt mói có thể xua tan những hiểu lầm vụn vặt nảy sinh trong cuộc sống chung. J.Dryden
  39. Con người không có tình yêu chẳng khác nào trái đất không có mặt trời. Victor Hugo
  40. Tình yêu là món quà quí nhất con người nhận được của nhau. L.Helévy
  41. Ái tình là cái gì, từ đâu đến và kết thúc ra sao, tôi không biết. Madeleine de Scudery
  42. ái tình là khói sinh ra cùng với hơi thở muộn phiền. Shakespeare
  43. chỉ có một thứ ái tình mà thôi, nhưng nó có hàng nghìn bản sao khác nhaụ La Rochefoucauld
  44. Viên đá có thể làm vỡ 1 cái cốc, 1 câu nói đủ để làm tan vỡ trái tim, 1 giây đủ để yêu một ai đó,và 1 sự hiểu lầm đủ để làm tan vỡ tình bạn,tình bạn là chiếc cầu vồng nói 2 trái tim,7 màu của cầu vồng đại diện cho 7 chữ.............I LOVE YOU Con người sinh ra không phải để tan biến đi như một hạt cát vô danh. Họ sinh ra để in dấu lại trên mặt đất, in dấu lại trong trái tim người khác. Bạn có thể bị tổn thương nếu yêu một người một cách say đắm, nhưng nó là phương pháp duy nhất khiến con người bạn trở nên toàn diện. Đừng che giấu tình yêu và sự dịu dàng của mình cho đến khi bạn lìa đời. Hãy làm cuộc đời bạn tràn đầy sự ngọt ngào. Hãy nói những lời nói thân thương khi bạn còn nghe được và khi tim bạn còn rung động Tình yêu là sự cầu chúc, chúc cho ai đó được hạnh phúc bên nửa yêu thương, chúc cho ai đó còn cô đơn sé tìm thấy một bờ vai chia sẻ tìm lại được nhau sau những tháng ngày xa cách, không có tình yêu nào vĩnh cửu, chỉ có những giây phút vĩnh cửu của tình yêu. Chúc cho những ai đang yêu, đã yêu và sắp sửa yêu sẽ mãi mãi được hạnh phúc Yêu là chết ở trong lòng một ít. Xuân Diệu
  45. Ôi! tình yêu, khi người bám được vào ta thì có thể nói: xin vĩnh biệt sự không ngoan. La Fontaine

DANH NGÔN VỀ HÀNH ĐỘNG

1.Học trong quá khứ, sống trong hiện tại, và chuẩn bị cho tương lai.
Learn from the past, live in the present, and prepare for the future
2.Dự tính điều xấu nhất, hy vọng điều tốt nhất
Plan for the worst, hope for the best
3.Hãy xin sẽ được, hãy tìm sẽ gặp, hãy gõ cửa sẽ mở.
Ask you will receive, seek you will find, knock and the door will be opened for you.

4.Hành động có giá trị hơn nói

action speaks louder than word



CÁC BẠN HÃY CLICK VÀO NÚT PLAY ĐỂ NGHE BÀI HÁT TÌNH QUÊ NGHĨA HÀNH DO NHẠC SĨ PHẠM ĐĂNG KHƯƠNG SÁNG TÁC NĂM 1994 (LƯU Ý TẮT NHẠC MẶC ĐỊNH RU EM TỪNG NGÓN XUÂN NỒNG).


http://www.esnips.com/doc/1f80fd85-d308-4d31-8e52-5056d9691706/13.-Gap-Lai-Co-Nhan---Giao-Linh

HÌNH ẢNH GHI LẠI Ở NGÀY GIỔ ÔNG NGOẠI 28 THÁNG CHẠP MẬU TÝ

9 tháng 1, 2009

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO THỜI NHÀ LÝ

Lịch sử ghi triều đại nhà Lý là một triều đại văn minh thịnh trị nhất nước ta. Do đó ta có thể đi sâu tìm hiểu vào chi tiết các thành quả to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà nhà Lý đã gặt hái được cũng như đã gây duyên lành cho các triều đại kế tiếp như thế nào.

Không phải cố ý đề cao triều nhà Lý; nhưng lẽ phải bắt buộc chúng ta phải phán xét vô tư. Nhà Lý sở dĩ hình thành vẫn do công của các nhà ái quốc tiền bối qua các dòng họ triều đại trước thúc đẩy. Gần nhất là họ Ngô, Đinh và Tiền Lê đã trực tiếp mở đường tự trị, độc lập cho quốc gia. Mà sự hình thành nhà Lý là do công của ba vị ái quốc, đó là các ngài: Lý Vạn Hạnh, Đào Cam Mộc và Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn thì thụ động, trong khi Vạn Hạnh lo về mưu lược chỉ đạo, còn Đào Cam Mộc lo thi hành kế sách - vì lúc đó, họ Đào có thể lực binh quyền trong tay. Đào Cam Mộc tự biết phận mình nên không có lòng tham dùng bạo lực chiếm đoạt ngai vàng. Đó là điều quí. Lý Công Uẩn, đã làm quan rất lớn trong triều Tiền Lê, tới chức Tả - thân - vệ - điện - tiền - chỉ - huy - sứ, là người thừa tư cách và khả năng phục vụ quốc gia. Chính Lý Công Uẩn là vị quan duy nhất ở tại triều, sau khi vua Lê Trung Tôn bị Lê Long Đĩnh hạ sát; còn các quan khác thì sợ sệt chạy tứ tán hết.

Cứ công minh mà nói thì Lý Công Uẩn quả là vị quan chính trực, đạo hạnh, can đảm, có khả năng đứng trước các biến cố nguy hiểm và bất ngờ mà vẫn bình tĩnh sáng suốt hành động. Lý Công Uẩn không cần phải dùng thế lực đình thần của mình để đoạt ngôi. Đó cũng là một điều quí. Ngài Vạn Hạnh đưa đệ tử của mình lên ngôi là đã làm một việc hợp lý vì thầy hiểu trò hơn ai khác, hơn nữa, chính cá nhân học trò, đệ tử của mình đã tham chính, có kinh nghiệm điều khiển việc nước, nhất là đủ điều kiện về đạo hạnh cũng như thể chất của tuổi trung niên.

Ai ở trường hợp Ngài Vạn Hạnh cũng đều phải làm như vậy. Nên việc làm của ngài là một sự hợp lý rất đáng quí. Giả thử ngài Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc không chịu giúp Lý Công Uẩn lên ngôi thì trong triều đình (cũ) cũng chẳng có ai có thể thay thế được Lý Công Uẩn. Đó là điều chắc chắn. Nếu Đào Cam Mộc tự xưng vương, rất có thể các quan trong triều sẽ tập hợp lại và đánh đuổi.

Căn cứ vào mẩu đối thoại dưới dây, giữa Lý Công Uẩn và Đào Cam Mộc thì thấy rõ: Lý Công Uẩn, tự bản thân đã có đủ uy tín để được triệu thỉnh lên ngôi hoàng đế.

Đào Cam Mộc đã khuyến thỉnh Lý Công Uẩn: "Trong lúc chúa thượng u mê, bạc nhược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét ông ta thất đức đến nỗi phải mệnh yểu! Con nối dõi còn thơ ấu, chưa thể kham nổi tình thế hết sức khó khăn; mọi việc trong triều chính rối như tơ vò, toàn dân nháo nhác ngóng trông một vị chân chúa ra đời. Thân vệ nên thừa dịp này đem kỳ mưu, túc trí ra gánh vác việc nước, xa thì theo dấu cũ của các vua Thang Vũ, gần nên nhìn vào việc làm của hai nhà Đinh, Lê, trên thuận ý trời, dưới hợp lòng người, chứ sao lại khư khư giữ cái tiểu tiết làm gì?"

Sang đến ngày hôm sau thì Đào Cam Mộc lại thỉnh một cách khẩn thiết hơn:

"Lời sấm đã quá rõ ràng, mọi người trong nước đều tin họ Lý sẽ dấy nghiệp. Việc chuyển họa thành phúc (cho đất nước) chỉ một sớm một chiều mà thôi. Đây chính là lúc trời trao vật lớn, vả lại hợp với lòng người mong muốn, Thân vệ còn nghi ngờ gì nữa!"

Lý Công Uẩn về sau cũng xiêu lòng và phán:

"Ý ông cũng giống như ý của Sư phụ Vạn Hạnh, nhưng phải hành động thế nào cho được êm ấm vẹn toàn trong ngoài?"

Cam Mộc đáp:

"Thân vệ là người công minh, khoan thứ, hẳn là toàn dân sẽ hết lòng qui phục. Hiện nay trăm họ đói rét khổ sở. Nhân tình trạng đó, thân vệ lấy ân đức phủ dụ thì người người theo về như nước chảy chỗ trũng, ai có thể ngăn lại được?"
Nói xong, Đào Cam Mộc cho triệu tập đám quần thần tản mát lại, ra Tuyên Ngôn tôn vinh Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, vị sáng lập một triều đại mới dòng họ Lý ở Việt Nam. Trong tuyên ngôn tấn phong có câu đáng chú ý:

"Nay ức triệu khác lòng, thần dân lìa đức, nếu không thừa dịp này tôn ngài thân vệ lên ngôi, rủi ro mà có chính biến liệu chúng ta có thể giữ nổi mạng sống hay không?"

Đến đây, thiết tưởng đã có đủ yếu tố để nhận định lòng ngay thẳng của Phật giáo. Phật giáo không bao giờ có ý tôn phò quyền môn, nên thường đứng ngoài các vụ tranh chấp nhỏ nhen bị khu phân trong một lĩnh vực giới hạn, và tránh sự đụng chạm với các thế lực bon chen không mấy trong sạch. Sự thật thì Phật giáo vượt lên trên để làm tròn sứ mệnh của mình là "thiên nhân chi đạo sư", nghĩa là chỉ làm cố vấn mà thôi. Nhà Lý được sáng lập là do chính tư cách cá nhân Lý Công Uẩn đã đưa ông lên ngôi, trong các hàng đình thần bạc nhược. Quốc sư Vạn hạnh chỉ là vị có công giáo dưỡng một công dân vẹn toàn là Lý Công Uẩn.

Đào Cam Mộc, một vị có tuệ nhãn biết lựa chọn nhân tài. Hoàn cảnh đất nước, quần thần và quần chúng buộc Lý Công Uẩn phải lên ngôi. Hai vị Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc chỉ là người giúp cho sự lên ngôi của Lý Công Uẩn được êm thắm, tránh va chạm đổ máu vô ích, và được thi hành một cách tinh vi cấp tốc, để tránh sự dòm ngó của ngoại bang và các phe nhóm trong nước.

Có một điều nữa cần phải minh chính. Đó là điều mà nhiều người tin là "triều đại nhà Lý là triều đại của Phật giáo". Điều đó đúng. Nhưng Phật giáo không giữ độc quyền thao túng văn hóa, rồi hắt hủi, không nâng đỡ các đạo giáo khác, như Khổng giáo và Lão giáo, để các đạo này không có cơ phát triển. Mặc dù nhà Lý, do Phật tử Lý Công Uẩn khai sáng, nhưng không vì thế mà nói rằng Phật giáo đã giữ địa vị độc tôn trong mọi sinh hoạt quốc gia. Về mặt tư tưởng, tự do tín ngưỡng tôn giáo, dưới triều Lý, vẫn được triển khai một cách triệt để bình đẳng.

Nên nhớ rằng: không phải chỉ bắt đầu từ đời nhà Lý, Phật giáo mới cố vấn chỉ đạo guồng máy chính quyền. Phật giáo đã làm việc này từ nhà Đinh. Phật giáo không ngửa tay xin việc hoặc quị lụy, luồn cúi quyền môn để xin ân huệ, nhằm thỏa mãn ý định ty tiện riêng tư, để lấn trên ép dưới đối với các đạo khác. Phật giáo bao giờ cũng đứng ngoài chính quyền. Các thiền sư có đời sống riêng, tại các tu viện, để tu đạo, hành đạo.

Lịch sử Việt Nam chưa từng ghi một vị thiền sư nào đang tinh tiến tu hành mà cởi bỏ pháp phục để nhận phẩm phục của triều đình, và nhập cung điện an cư bao giờ.

Chỗ chư tăng ở bao giờ cũng là chùa. Áo các thầy mặc bao giờ cũng là màu nâu, lam. Sự việc chỉ có thế. Các thiền sư hàng ngày không bao giờ lai vãng chốn triều đình phiền toái. Chỉ khi nào các vị vua chúa cần điều gì minh giải mà quần thần không làm nổi thì lúc bấy giờ mới phái sứ giả đến thiền môn cung thỉnh các ngài lai triều góp ý kiến giải quyết cho, xong rồi thì việc ai nấy làm.

Vấn đề phong chức cho các vị thiền sư, đối với vua chúa, chỉ là một công việc tế nhị phải làm. Trước hết, là để tỏ lòng biết ơn, thứ nữa là để hệ thống hóa, đoàn ngũ hóa một cách bền chặt một tập thể trong xã hội cũng như bao nhiêu tập thể khác mà thôi.

Điều đặc biệt cần lưu ý là, tuy có một số các vị thiền sư mang chức phẩm của triều đình vinh phong, nhưng triều đình vẫn không bị các vị này chi phối. Các ngài chỉ có thẩm quyền đối với tập thể Phật giáo, còn đối với triều đình thì chỉ giữ vai trò cố vấn. Triều đình có vua quan lo mọi việc. Chưa hề thấy lịch sử ghi cuộc xích mích tranh chấp nào giữa một thiền sưvới một vị vua hoặc quan nào cả. Có thể nói được là Phật giáo và triều đình có hai sứ mệnh khác nhau, biệt lập trong nhiệm vụ, nhưng thỉnh thoảng vẫn có một vài vụ tương trợ vô tư, hay có sự liên lạc thân hữu trong sạch với nhau. Đã thấy nhiều vụ vì nghe danh và quá cảm mến, một vị vua cố mời cho kỳ được một vị thiền sư đến cung để luận đàm đạo lý, nhưng vị thiền sư này đã khước từ.

Sở dĩ đề cập vấn đề chức tước vua ban cho các thiền sư chính là vì thiên hạ thường coi trọng quan tước rồi muốn dựa vào đó mà toàn quyền hành động. Chứ đối với các thiền sư thì vấn đề chức tước là chuyện bận tâm, vô ích; nhưng vì lịch sự nên vẫn phải nhận để tránh gây ngộ nhận là khi quân. Chưa hề thấy một tập đoàn quần chúng hoặc một cá nhân nào bị điêu đứng khổ sở, vì chuyện nhà vua đã vinh thăng quan tước cho các vị thiền sư, và dù rằng Phật giáo đã công khai hoạt động từ thời nhà Đinh nhưng đến thời nhà Lý mới phát triển được mạnh. Như thế không phải nhà Lý đã nâng đỡ một mình Phật giáo, mà chính Phật giáo cũng phải theo thông lệ như các học phái, tôn giáo khác mà tiệm tiến, chờ đến khi "túc duyên" mới phát triển được mạnh, và đến lúc không còn "liên tục duyên" thì nó cũng theo luật vô thường mà bị suy vi. Hơn nữa, không một vị vua nào lại sơ suất đến độ gây ra hiềm khích giữa các học phái, tôn giáo hay các ý hệ với nhau, để chính triều đại của mình chịu gặp nhiều xáo trộn trong đời sống cộng đồng.

Hồi nước ta mới lấy lại quyền tự chủ, kể từ đời Lý Nam Đế đến Mai Hắc Đế, đến Bố Cái Đại Vương, Khúc Tiên Chúa, Dương Chính Công, Ngô Tiên Chúa thì Nho giáo đã có nhiều người chấp chính, và lúc ấy chưa có sự xuất hiện của các thiền sư một cách chính thức và đại qui mô. Thế mà Nho giáo vẫn không hưng thịnh được, chính là vì những con người theo Nho giáo hồi đó phần nhiều đặt nặng lòng tham vị kỷ lên trên hết, và nhằm ngai vàng làm mục tiêu của mình. Vì thế mấy dòng họ kia đã không được vững bền, lâu dài. Người theo Nho giáo đã không ý thức được sự cường thịnh phải có của quốc gia qua sự ổn cố của xã hội, không tập hợp được quốc dân để hướng họ vào sự phục vụ quốc gia. Nho giáo ở Việt Nam lúc ấy đã là một trở ngại cho bước tiến vững chắc của toàn dân. Về kinh tế, chính trị không được cải thiện một cách hợp lý. Xã hội thì vẫn là một xã hội rập khuôn theo Trung Hoa, không có điều gì mới mẻ quan trọng được khai sinh. Con người lại không có được hoàn cảnh thuận lợi để phát triển khả năng của mình cho xã hội và cho chính hạnh phúc bản thân nữa.

Nho giáo buổi ấy, không có chính sách hưng quốc, không có đường hướng hoạt động hợp lý, trên cương vị hành xử việc điều khiển quốc gia. Do đó, sau khi nhà Đinh thống nhất được quốc gia, dẹp tan nạn Thập nhị sứ quân thì đã phải dùng đến các hình luật cực kỳ đanh thép, để lập lại trật tự xã hội, tạo cơ hội thuận duyên cho toàn dân an cư lạc nghiệp.

Lúc ấy họa Thập nhị sứ quân bị tiêu diệt thì chính là lúc cáo chung vai trò của những phần tử theo Nho giáo, và chính lúc ấy Đạo Phật bắt đầu công khai hoạt động.

Đạo Phật, qua hai triều Đinh, Tiền Lê vẫn chưa được mãnh phát đúng khả năng phục vụ quốc gia. Vì hai triều nọ vẫn hãy còn chịu ảnh hưởng của tinh thần Nho giáo nên cả hai triều đại Đinh, Lê đều không tồn tại được lâu bền, vì hệ thống cầm quyền của vua chúa lúc bấy giờ đã mục nát và lỗi thời, nên cần phải có một hệ thống chính quyền mới thích ứng với thời cuộc mới.

Quốc gia Việt Nam phải chờ đến thời nhà Lý mới được hùng mạnh vì nhờ có Lý Công Uẩn, vị khai nguyên triều đại nhà Lý vốn là người đã được giáo dục, đào tạo trong một thời gian ở Thiền môn dưới sự dạy dỗ của quốc sư Vạn Hạnh.

Đạo Phật phát triển được khả năng kiến quốc một cách vinh quang, không phải là nhờ vào phép lạ nào hoặc nhờ vào xảo thuật lấn áp, dìm dập hạng nhân tài chịu ảnh hưởng Nho giáo; trái lại do quá trình tiến hóa tự nhiên chung cho mọi tập đoàn văn hóa mà nó đã rút ra kinh nghiệm kiến quốc ở hai triều đại kia. Nhà Đinh thì đã dùng luật pháp quá khắc khe - trong khi chưa khai phóng, cởi mở cho từng lớp nhân dân - được thi hành triệt để, và các sự cải tổ về chính trị, kinh tế và xã hội chưa mấy hợp lý. Còn nhà Tiền Lê thì cũng không tạo nổi sự thay đổi nào quan trọng có tính cách đại qui mô và có căn bản trường cửu.

Vai trò của các quốc sư, thiền sư làm cố vấn chỉ đạo cho hai triều Đinh, Tiền Lê không được nổi bật như dưới triều Lý. Vì ở vào môi trường giao tiếp giữa Nho giáo và Lão giáo nên các ngài tuy chỉ dẫn vô tư cho các vị quốc vương, song các vị này đã không đủ quyền năng, nghị lực thi hành trọn vẹn sứ mệnh. Đến lớp con cháu các vị thì vẫn còn chịu ảnh hưởng di truyền của đạo Khổng, về cả tinh thần lẫn vật chất, qua các vị vương tử thiếu sáng suốt và nghèo nghị lực, nên chỉ miệt mài lo củng cố hạnh phúc vị kỷ, đến nỗi kéo đổ luôn cả ngai vàng và đưa dòng họ đương vinh quang trở lại đời sống bình thường và phức tạp.

Phải chờ đến đời nhà Lý, nước Việt Nam mới thật sự cường thịnh là do có con Người Mới mang một Ý Thức Mới, tới, và do đó, có một Chính Sách Mới cải tổ toàn diện các cơ cấu quốc gia đi.

HOA HẢI ĐƯỜNG QUYỀN QUÍ CAO SANG

hình ảnh bé Ngọc Trâm



TÌM HIỂU VỀ VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM

Văn Miếu được xây dựng từ "tháng 8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.".

Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.

Từ năm 1253, vua Trần Thái Tông cho mở rộng Quốc Tử giám và thu nhận cả con cái các nhà thường dân có sức học xuất sắc.

Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.

Sang thời Hậu Lê, Nho giáo rất thịnh hành. Vào năm 1484, Lê Thánh Tông cho dựng bia tiến sĩ của những người thi đỗ tiến sĩ từ khóa thi 1442 trở đi.

Năm 1762, Lê Hiển Tông cho sửa lại là Quốc Tử Giám - cơ sở đào tạo và giáo dục cao cấp của triều đình. Năm 1785 đổi thành nhà Thái học.

Đời nhà Nguyễn, Quốc Tử giám lập tại Huế. Năm 1802, vua Gia Long ấn định đây là Văn Miếu - Hà Nội và cho xây thêm Khuê Văn Các. Trường Giám cũ ở phía sau Văn Miếu lấy làm nhà Khải thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử. Đầu năm 1947, giặc Pháp nã đạn đại bác làm đổ sập căn nhà, chỉ còn cái nền với hai cột đá và 4 nghiên đá. Ngày nay, ngôi nhà này đã được phục dựng theo kiến trúc cùng thời với quần thể các công trình còn lại.

Toàn bộ kiến trúc Văn Miếu hiện nay đều là kiến trúc thời đầu nhà Nguyễn. Khuôn viên được bao bọc bởi bốn bức tường xây bằng gạch Bát Tràng.

Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.

Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ. Giữa hồ có gò Kim Châu, trước đây có lầu để ngắm cảnh.

Ngoài cổng chính có tứ trụ, hai bên tả hữu có bia "Hạ Mã", xung quanh khu vực xây tường cao bao quanh. Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam quan, trên có 3 chữ "Văn Miếu Môn" kiểu chữ Hán cổ xưa.

Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau:

Khu thứ nhất: bắt đầu với cổng chính Văn Miếu Môn đi đến cổng Đại Trung Môn, hai bên có cửa nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn.

Khu thứ hai: từ Đại Trung Môn vào đến khuê Văn Các (do Đức Tiền Quân Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành cho xây năm 1805). Khuê Văn Các là công trình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt. Kiến trúc gồm 4 trụ gạch vuông (85 cm x 85 cm) bên dưới đỡ tầng gác phía trên, có những kết cấu gỗ rất đẹp. Tầng trên có 4 cửa hình tròn, hàng lan can con tiện và con sơn đỡ mái bằng gỗ đơn giản, mộc mạc. Mái ngói chồng hai lớp tạo thành công trình 8 mái, gờ mái và mặt mái phẳng. Gác là một lầu vuông tám mái, bốn bên tường gác là cửa sổ tròn hình mặt trời toả tia sáng. Hình tượng Khuê Văn Các mang tất cả những tinh tú cua bầu trời toả xuống trái đất và trái đất nơi đây được tượng trưng hình vuông của giếng Thiên Quang. Công trình mang vẻ đẹp sao Khuê, ngôi sao sáng tượng trưng cho văn học. Đây là nơi thường được dùng làm nơi thưởng thức các sáng tác văn thơ từ cổ xưa tới nay. Hai bên phải trái Khuê Văn Các là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào hai khu nhà bia Tiến sỹ.

Khu thứ ba: gồm hồ nước Thiên Quang Tỉnh (nghĩa là giếng soi ánh mặt trời), có hình vuông. Hai bên hồ là 2 khu nhà bia tiến sĩ. Mỗi tấm bia được làm bằng đá, khắc tên các vị thi đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ. Bia đặt trên lưng một con rùa. Hiện còn 82 tấm bia tiến sĩ về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, chia đều cho hai khu tả và hữu. Trong đó, 12 bia đầu tiên (cho các khoa thi những năm 1442-1514) được dựng vào thời Lê sơ, 2 bia (cho các khoa 1518, 1529) được dựng vào triều nhà Mạc, còn 68 bia cuối cùng (các khoa thi những năm 1554-1779) được dựng vào thời Lê trung hưng. Mỗi khu nhà bia gồm có 1 Bi đình nằm ở chính giữa và 4 nhà bia (mỗi nhà 10 bia) xếp thành hai hàng, nằm hai bên Bi đình. Bi đình khu bên trái Thiên Quang Tỉnh chứa bia tiến sĩ năm 1442, còn Bi đình khu bên phải chứa bia tiến sĩ năm 1448.

Khu thứ tư: là khu trung tâm và là kiến trúc chủ yếu của Văn Miếu, gồm hai công trình lớn bố cục song song và nối tiếp nhau. Toà ngoài nhà là Bái đường, toà trong là Thượng cung.

Khu thứ năm: là khu Thái Học, trước kia đã có một thời kỳ đây là khu đền Khải thánh, thờ bố mẹ Khổng Tử, nhưng đã bị phá hủy. Khu nhà Thái Học mới được xây dựng lại năm 2000.

Trong Văn Miếu có tượng Khổng Tử và Tứ phối (Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). Ở điện thờ Khổng Tử có hai cặp hạc cưỡi trên lưng rùa. Đây là hình tượng rất đặc trưng tại các đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt nam. Hình ảnh hạc chầu trên lưng rùa trong nhiều ngôi chùa, miếu..., hạc đứng trên lưng rùa biểu hiện của sự hài hòa giữa trời và đất, giữa hai thái cực âm - dương. Hạc là con vật tượng trưng cho sự tinh tuý và thanh cao. Theo truyền thuyết rùa và hạc là đôi bạn rất thân nhau. Rùa tượng trưng cho con vật sống dưới nước, biết bò, hạc tượng trưng cho con vật sống trên cạn, biết bay. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng cả một vùng rộng lớn, hạc không thể sống dưới nước nên rùa đã giúp hạc vượt vùng nước ngập úng đến nơi khô ráo. Ngược lại, khi trời hạn hán, rùa đã được hạc giúp đưa đến vùng có nước. Điều này nói lên lòng chung thuỷ và sự tương trợ giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn giữa những người bạn tốt.

Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
ALBUM TẠI VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM

Đây là những hình ảnh Thiên chụp tại Văn Miếu Quốc Tử Giám năm 1998

ALBUM BÉ QUỲNH - BÉ MI

Ų